Bài đăng

Khoan

Khoan là quá trình công nghệ phá huỷ đá bằng các phương khác nhau để tạo giếng khoan (lỗ khoan). Khoan giếng được tiến hành bằng các tổ hợp thiết bị chuyên dụng và gồm các thao tác cơ bản – phá huỷ đá ở đáy giếng khoan bằng dụng cụ phá huỷ đá; kéo thả bộ dụng cụ khoan; đẩy mùn khoan từ đáy lỗ khoan lên mặt đất bằng thuỷ lực hoặc cơ học; gia cố thành giếng khoan bằng ống chống hoặc trám xi măng. Các phương pháp khoan có thể chia thành hai nhóm cơ bản là phương pháp cơ học và phương pháp vật lý. Phương pháp khoan cơ học gồm 1) Khoan xoay; 2) Khoan đập - xoay; 3) Khoan xoay - đập; 4) Khoan đập cáp; 5) Khoan rung. Phương pháp vật lý hoặc phương pháp khoan không cần dụng cụ phá huỷ đá gồm 1) Khoan nhiệt; 2) Khoan nổ; 3) Khoan thuỷ lực; 4) Khoan xung lực điện. Phạm vi sử dụng khoan rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như tìm kiếm thăm dò khoáng sản rắn, dầu khí, nước ngầm; khảo sát địa chất công trình; xây dựng và khai thác mỏ. Lỗ khoan là một lỗ hình trụ nằm trong vỏ Trái Đất do khoan tạo th…

Địa chất thủy văn đô thị

Địa chất thủy văn đô thị là một lĩnh vực mới trong địa chất thủy văn hiện đại. Nó nghiên cứu sự tác động qua lại giữa tài nguyên nước dưới đất với môi trường xung quanh trong đô thị, nghĩa là nó nghiên cứu vai trò của nước dưới đất trong việc cung cấp nước đô thị và tác động của hoạt động kinh tế trong đô thị đến sự tồn tại vận động của nước dưới đất, đến chất lượng và trữ lượng nước dưới đất.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/18718
Title: Địa chất thủy văn đô thịOther Titles: Urban HydrogeologyAuthors: Đoàn, Văn CánhKeywords: Tài nguyên nước dưới đất ở các đô thị lớn của Việt Nam,
Thủy văn đô thị,Issue Date: 2017Publisher: H. : ĐHQGHN

Nhóm mỏ và mạng lưới thăm dò

Mục tiêu của công tác thăm dò là đánh giá giá trị công nghiệp của đối tượng thăm dò, đánh giá kinh tế địa chất làm cơ sở cho thiết kế khai thác mỏ và tuyển khoáng. Đặc điểm cấu tạo địa chất mỏ, hình dạng, kích thước, điều kiện thế nằm của thân quặng, tài nguyên trữ lượng khoáng sản, cũng như đặc điểm biến hóa của các thông số địa chất thân quặng là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp và hiệu quả kinh tế của công tác thăm dò. Vì vậy, việc phân chia thành các nhóm mỏ thăm dò cho phép lựa chọn đúng phương pháp và nâng cao hiệu quả của công tác thăm dò. Quá trình thăm dò thực chất là theo dõi, khoanh nối thân quặng trên bình đồ, mặt cắt hoặc hình chiếu để phục vụ cho công tác tính trữ l¬ượng và đánh giá giá trị công nghiệp mỏ. Vì vậy, cần phải bố trí công trình theo quy luật để có thể lập đ¬ược các mặt cắt, đồng thời thi công các công trình sao cho chúng cắt qua toàn bộ thân quặng hoặc đới khoáng hoá. Các mặt cắt thăm dò giao nhau tạo nên mạng l¬ưới thăm dò với nhữ…

Nitrat

Nitrat là lớp khoáng vật hình thành từ ion gốc đa nguyên tử với công thức (NO3)- hóa hợp với ion kim loại như K, Na, NH4, Ca, v.v... [B. 1]. Muối nitrat thường dễ tan trong nước, trừ các thành viên chứa nitrat giả bền của nhóm hydrotalcit và một số muối của đồng. Vì vậy hầu hết các mỏ nitrat tự nhiên được tìm thấy trong những vùng khí hậu khô, hoặc vùng có tốc độ bốc hơi cao.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/18724
Title: NitratAuthors: Trịnh, HânKeywords: Tính chất hóa lý,
Phân bố địa lí của nitrat,
Công dụng,Issue Date: 2017Publisher: H. : ĐHQGHN

Tiền đề tìm kiếm

Mục đích cuối cùng của công tác tìm kiếm trong Địa chất là phát hiện khoáng sản trong lòng đất, vì thế “Tìm kiếm khoáng sản rắn” có vai trò rất quan trọng. Muốn tìm kiếm có hiệu quả phải nắm được quy luật phân bố của chúng, biết vận dụng các kiến thức khoa học - kỹ thuật để tạo ra các phương pháp mới và hiệu quả kinh tế cao nhất. Sự phát triển của khoa học địa chất, nhất là “Địa chất tài nguyên” và “Sinh khoáng học” cũng như những nghiên cứu về Địa hoá, Địa vật lý và các chuyên ngành khác của Địa chất cho phép công tác tìm kiếm khoáng sản được thực hiện một cách khoa học và hiệu quả hơn. Phương pháp tìm kiếm khoáng sản ngày càng được hoàn thiện do kết quả của các nghiên cứu sau: - Cấu trúc đặc trưng của vỏ Trái Đất và mối liên quan với khoáng sản. - Thành tựu nghiên cứu về magma, biến chất đặc trưng cho các yếu tố cấu trúc chính. - Thành tựu nghiên cứu về thạch học trầm tích và các mỏ trầm tích. - Thành tựu nghiên cứu về Địa hoá, Địa vật lý được áp dụng ngày càng rộng rãi trong công t…

Olivin

Olivin là khoáng vật tạo đá quan trọng trong các đá xâm nhập mafic như peridotit, gabro và basalt. Loại đá siêu mafic dunit gần như hoàn toàn tạo nên từ olivin và đó là kết quả kết tinh phân đoạn của dung thể thành phần peridotit. Loại olivin giầu Mg rất phổ biến trong phần lớn các nodul siêu mafic có nguồn gốc từ manti trong các ống nổ kimberlit. Olivin phổ biến trên Trái Đất, Mặt Trăng và trong các thiên thạch đá. Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành đối với các tính chất vật lí, hóa học và cơ học của olivin để tìm hiểu trạng thái vật lý của phần bên trong của Trái Đất, nguồn gốc các thiên thạch, cùng lịch sử và các quá trình diễn ra trên các hành tinh.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/18734
Title: OlivinAuthors: Trịnh, HânKeywords: Đặc điểm hóa học tinh thể,
Danh pháp,
Tính chất vật lý và độ bền vững,
Nguồn gốc,Issue Date: 2017Publisher: H. : ĐHQGHN

Oxit và hydroxit

Lớp khoáng vật oxit gồm những khoáng vật trong đó anion oxy (O2-) liên kết với một hoặc vài ion kim loại. Các khoáng vật hydroxit cũng thường được xếp chung vào lớp này; như vậy oxit và hydroxit là những hợp chất của các kim loại và á kim với oxy và hydroxil. Hiện nay đã xác định được tới 200 khoáng vật oxit và hydroxit. Chúng chiếm gần 17% trọng lượng của thạch quyển, trong đó 12,6% thuộc nhóm oxit silic, và 3,9% là các oxit và hydroxit sắt (khoảng 50 khoáng vật).
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/18736
Title: Oxit và hydroxitAuthors: Nguyễn, Ngọc KhôiKeywords: Thành phần và tính chất hóa học,
Cấu trúc tinh thể,
Tính chất vật lý,
Nguồn gốc và ứng dụng,Issue Date: 2017Publisher: H. : ĐHQGHN